logo sachbanchay.vn

[ Sách ] Tổng Quan Về Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng

Viết đánh giá
Tình trạng: Chỉ còn 15 sản phẩm
99.000₫ 110.000₫
Công ty phát hành Thái Hà Tác giả Lama Ngawang Samten Ngày xuất bản 08 - 2019 Kích thước 15.5 x 24 cm Nhà xuất bản Nhà Xuất Bản Hà Nội Loại bìa Bìa mềm Số trang 364...
Hãy gọi Liên hệ 0904 042 184

Công ty phát hành    Thái Hà
Tác giả    Lama Ngawang Samten
Ngày xuất bản    08 - 2019
Kích thước    15.5 x 24 cm
Nhà xuất bản    Nhà Xuất Bản Hà Nội
Loại bìa    Bìa mềm
Số trang    364

GIỚI THIỆU SÁCH
Cuốn sách “Tổng quan về Phật giáo Mật tông Tây Tạng” trình bày và tìm hiểu một cái nhìn toàn diện của Mật tông Tây Tạng, với hy vọng đưa ra một “tổng hợp thể” về Mật tông Tây Tạng. Sự hiểu biết tổng quan và đại cương này rất cần thiết, để cho những người muốn tìm về giáo lý và hành trì Mật tông có được một tài liệu tham khảo và minh định hướng đi của mình trên con đường tìm về chân lý của chư Phật.

Mỗi chúng sinh đều thọ thân người với những thuộc tính và căn cơ khác nhau. Cho nên mỗi người phải tự mình chọn lựa pháp môn thích hợp. Chỉ riêng về Mật tông Tây Tạng đã có nhiều trường phái riêng biệt, mỗi trường phái lại có ngàn vạn pháp môn khác nhau, không thể nào tìm học cho hết dù dành cả đời mình để học hỏi.

Do đó cuốn sách này cũng chỉ giới hạn về đại cương quá trình hình thành Mật tông Tây Tạng qua lịch sử và các trường phái chính cũng như các pháp môn hành trì rộng rãi nhất của các trường phái đó, để người sơ cơ có thể từ đó tìm hiểu và chọn hướng đi phù hợp với căn cơ của mình.

 

Trích đoạn:

Lịch sử Phật giáo thế giới qua ba kỳ chuyển pháp luân

Để có thể hiểu được Phật giáo và vai trò của Phật giáo trong quá trình tu tập đạt giác ngộ, chúng ta hãy tìm hiểu, xem lại nguồn gốc và lịch sử Phật giáo Ấn Độ.

Trước hết, chúng ta đều biết là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh trong thế giới của nhân loại với hạnh nguyện cao cả giúp chúng sinh giải quyết vấn đề của sinh tử. Thời bấy giờ nước Ấn Độ nằm trong chế độ quân chủ. Về đời sống vật chất thì người dân sống khổ sở trong một xã hội đặt nền tảng trên sự phân chia giai cấp, bất công và áp bức, bao gồm những giai cấp chính sau đây:

Bà La Môn (Brahman) là những giáo sĩ, phụ trách về lễ nghi, cúng bái. Họ tự có quyền ưu tiên, được tôn kính, và an hưởng cuộc đời sung sướng nhất.
Sát Đế Lợi (Kastrya) là hàng vua chúa quý phái, nắm giữ quyền hành thống trị dân chúng.
Vệ Xá (Vaishya) là những hàng thương gia điền chủ.
Thủ Đà La (Shudra) là hàng dân nô lệ bần tiện, nên an phận làm tôi đòi suốt đời cho các giai cấp trên.
Ngoài ra còn có một hạng tiện dân gọi là Chiên Đà La  (s. Candala), không thuộc về giai cấp nào cả, bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người, tệ hơn cả súc vật, ai cũng kinh tởm không dám đụng đến người, sống một kiếp thật là khổ nhục.

Còn về phương diện tâm linh, xã hội Ấn Ðộ lúc bấy giờ cũng sống trong một tình cảnh hỗn loạn.  Các trào lưu tôn giáo, các hệ thống triết học, tư tưởng cũng ở trong một hoàn cảnh vô cùng hỗn độn. Đủ loại tín ngưỡng, đủ loại triết thuyết ra đời. Từ thờ phụng các vị thần thế gian cho đến các vị trời như Phạm Thiên, thờ thần lửa, thần sông, thần núi, cho đến tu lõa thể, hoặc tôn thờ những loài vật. Các triết học đủ loại, từ cụ thể đến trừu tượng, lập thuyết trên thời gian, trên không gian, chủ trương nhất nguyên, nhị nguyên, đa nguyên… Hàng trăm hệ phái khác nhau, luôn luôn tranh luận, hý luận không ngừng, đả kích chống báng nhau. Các vị luận sư thời đó ai ai cũng cho mình là giỏi nhất, biện tài nhất, trong khi thực tế thì các tầng lớp dân chúng khổ sở dưới ách thống trị của giai cấp, bất công và áp bức, còn hý luận của họ chẳng hề cứu độ gì được những người dân nghèo khổ.

Tất cả xã hội lúc bấy giờ đang điên đảo trong khổ đau vật chất lẫn tinh thần, qua những tà thuyết rối loạn. Trong tình trạng đó, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh và khai thị cho con người theo về chính đạo.

Để giáo hoá, dẫn dắt chúng sinh tu đạo thành công, Ngài đã thực hành đồng sự và lợi hành qua hành trình tự mình đi tìm và  thực nghiệm ra  con đường chính đạo. Bắt đầu từ địa vị tôn quý của một vị hoàng tử, Ngài đã từ bỏ gia đình, “cát ái từ sở thân”, để xuất gia theo con đường Phạm hạnh và chuyên tu khổ hạnh cho đến khi nhận chân ra là không thể nào đi theo con đường đó mà đạt toàn giác. Từ đó, Ngài chuyên tâm thiền định dước gốc cây Bồ Đề, phát triển trí tuệ Bát Nhã trong bảy tuần lễ. Vào ngày thứ 49, trước khi trời sáng, Ngài đã chứng ngộ toàn giác viên mãn.

Sau khi chứng ngộ trí Bát Nhã tối thượng và sự toàn giác viên mãn ấy, Ngài tiếp tục thiền định bên bờ sông Ni Liên Thiền và vị trời Phạm Thiên Sahampati đã xuất hiện để tán thán Ngài đã đắc quả Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Chính Đẳng Chính Giác, Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Ngài thiền định và quán tưởng đến các chúng sinh còn đang trầm luân trong ái dục ngũ trần, và phát sinh tư tưởng, thấy rằng sự chứng ngộ tối thượng viên mãn này quả thật thâm sâu huyền diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có các bậc thiện trí mới thấu hiểu. Nhất thiết chủng trí bất khả thuyết, bất khả tư nghì ấy khó có thể giảng, đạo lý cao siêu mầu nhiệm ấy khó có thể dạy cho các chúng sinh hữu tình đang đắm chìm trong ái dục và trong những tà thuyết hý luận. Lý nhân quả và duyên khởi, tính không là những điều rất khó lãnh hội, cũng như Niết Bàn chấm dứt mọi nhân duyên quả báo, 
 

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Giỏ hàng( Sản phẩm)

avatar
Xin chào
close nav